Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

CHUẨN ĐOÁN BỆNH VIÊM DA CƠ ĐỊA


Nguyên nhân và căn sinh bệnh học

Viêm da cơ địa là một phản ứng viêm, bệnh phát sinh dựa vào 2 yếu lố là tác nhân kích thích và cơ địa dị ứng.
ẢNH CHỤP BỆNH NHÂN TẠI ĐÔNG Y PHÚC KHANG

Tác nhân kích thích (dị ứng nguyên)

Tác nhân ngoại giới: gồm các yếu tố tác động từ bên ngoài vào cơ thể con người (yếu tố vật lý hoá học, sinh học…)
Tác nhân nội giới: Gồm tất cả các rối loạn chức phận nội tạng (bệnh tiêu hoá, nội tiết…) đều có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên bệnh viêm da cơ địa.

Cơ địa dị ứng

Dù nguyên nhân ngoại giới hay nội giới đều liên quan đến cơ địa đặc biệt của cơ thể dẫn đến phản ứng dị ứng.

Sự liên quan đến gen di truyền

Trên thực tế bệnh có tính chất gia đình rõ rệt: Nếu cả bố và mẹ đều bị bệnh dị ứng thì 75% con cái của họ bị viêm da cơ địa, nếu chỉ có mình bố hoặc mẹ thì tỷ lệ này là 58%

Sự liên quan đến gen bệnh

 Gần đây người ta đã phát hiện ra các gen có liên quan tới bệnh nhân viêm da cơ địa như gen của các Cytokines IL4, IL5; gen Chymase của dưỡng bào Mastocyte, gen của thụ thể IL4 hoặc chuỗi β có thụ thể ái tính với IgE, thụ thể này không có ở trên da người bình thường, còn da tại vùng tổn thương của bệnh nhân viêm da cơ địa, thụ thể này tăng cao.

Dịch tễ học

ẢNH LÒNG BÀN TAY BỆNH NHÂN

Theo báo cáo của phòng khám Viện Da liễu quốc gia, có khi viêm da cơ địa chiếm khoảng 20% số bệnh nhân đến khám tại phòng khám. Bệnh thường gặp vào hai tháng đầu, có tới 60% trẻ viêm da cơ địa phát bệnh trong năm đầu, 30% trong 5 năm đầu và chỉ có 10% phát bệnh từ 6-20 tuổi. Rất hiếm bệnh nhân phát bệnh khi trưởng thành, bệnh gặp ở cả nam và nữ nhưng nam thường gặp hơn nữ.

Biểu hiện lâm sàng

Giai đoạn cấp tính

 Biểu hiện bệnh khi cấp tính là đám da đỏ ranh giới không rõ, các sẩn và đám sẩn, mụn nước tiết dịch, không có vẩy da. Da bị phù nề, chảy dịch, đóng vảy tiết. Các vết xước do gãi tạo vết chợt, bội nhiễm tụ cầu tạo các mụn mủ và vẩy tiết vàng. Bệnh thường khư trú ở trán, má, cằm, nặng hơn có thể lan ra tay, thân mình.

Biểu hiện bán cấp

Với các triệu chứng nhẹ hơn, da không phù nề, tiết dịch.

Giai đoạn mạn tính

Da dày thâm, ranh giới rõ, liken hoá, các vết nứt đau; đây là hậu quả của việc bệnh nhân ngứa gãi nhiều. Thương tổn hay gặp ở các nếp gấp lớn, lòng bàn tay, bàn chân, các ngón, cổ, gáy, cổ tay, cẳng chân.

Triệu chứng bệnh thường gặp

Khô da, ban đỏ- ngứa tạo thành vòng xoắn bệnh lý: ngứa-gãi-ban đỏ-ngứa… Ngoài ra người bệnh còn có các triệu chứng khác như viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc mắt và viêm ngứa họng, hen. Các biểu hiện bệnh lý như chứng vẽ nổi, bệnh vẩy cá thông thường, dày sừng nang lông…có thể gặp trên bệnh nhân viêm da cơ địa.

Vị trí hay gặp

Mặt, trán, mặt gấp các chi, gáy, mi mắt, cổ tay, mu tay, mu chân, trường hợp nặng có thể lan toàn thân.

Tiến triển

Không điều trị bệnh tiến triển trong nhiều tháng, nhiều năm. Khoảng gần 50% bệnh khỏi khi ở tuổi thiếu niên, nhưng cũng nhiều trường hợp bệnh tồn tại lâu trong nhiều năm cho đến tuổi trưởng thành. Nhiều bệnh nhân bị hen hoặc các bệnh dị ứng khác.

Chẩn đoán

Có 4 tiêu chuẩn chính để chẩn đoán:
  • Ngứa.
  • Viêm da mạn tính và tái phát.
  • Hình thái và vị trí thương tổn điển hình .
                      Trẻ em: Chàm khu trú ở mặt, vùng duỗi.
                      Trẻ lớn và người lớn: Dày da, Lichen vùng nếp gấp.
  • Tiền sử cá nhân hay gia đình có bệnh cơ địa dị ứng như hen, viêm mũi dị ứng, viêm da cơ địa.
 Các tiêu chuẩn phụ:
Khô da, viêm môi, đuc thủy tinh thể, viêm kết mạc mắt, dị ứng thức ăn, chàm ở bàn tay, dễ bị nhiễm trùng da và hay tái phát, ngứa khi ra mồ hôi, vẩy phấn trắng, các tổn thương khác giống dày sừng nang lông, chàm núm vú, quầng thâm quanh mắt, xét nghiệm IgE tăng.

                                                                   ĐÔNG Y PHÚC KHANG

CHUẨN ĐOÁN BỆNH Á SỪNG


Nguyên nhân gây á sừng
Nguyên nhân gây á sừng đến nay vẫn chưa xác định, song nhiều nhà khoa học cho rằng đó là do yếu tố di truyền trong gia đình hoặc thói quen dinh dưỡng thiếu cân đối từ bé. Thực tế cho thấy, đại đa số bị mắc bệnh đều do ăn ít rau quả. Thiếu vitamin nhất là A, C, D, E... sẽ ảnh hưởng đến chất lượng lớp sừng.
Đây là bệnh viêm nhiễm mạn tính, khi cơ thể có sự thay đổi về nội tiết có thể tự khỏi như đến tuổi dậy thì, mang thai, mãn kinh...
BỆNH Á SỪNG

Biểu hiện bệnh á sừng
Bệnh á sừng là một bệnh viêm da cơ địa dị ứng, là một bệnh ngoài da khá phổ biến, có thể gặp ở nhiều vị trí da khác nhau, nhưng rõ rệt nhất là ở các đầu ngón tay, chân, gót chân. Vùng bàn tay, chân bị á sừng thường khô ráp, tróc da, nứt nẻ ở ria, gót chân và đầu các ngón. Nếu không giữ gìn vệ sinh, người bệnh dễ bị nhiễm khuẩn thứ phát gây sưng tấy.
Vào mùa hè, vùng da bệnh bị ngứa, nổi mụn nước như trong bệnh tổ đỉa, lâu ngày có thể làm các móng xù xì lỗ chỗ. Vào mùa đông, tình trạng nứt nẻ càng nặng, phần da bệnh dễ bị toác ra, rớm máu, nứt sâu ở gốc ngón gọi là đứt cổ gà, đi lại đau đớn.

ƯU NHƯỢC ĐIỂM CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ HIỆN TẠI

A

CHẾ ĐỘ SINH HOẠT VỚI NGƯỜI BỊ BỆNH

A

THUỐC VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG THUỐC

A

KHÁM BỆNH TRỰC TUYẾN

A

CHỮA KHỎI BỆNH Á SỪNG

A